Top Banner Ads
TRANG CHỦ DỊCH VỤ GIỚI THIỆU KHÁCH HÀNG SEALAW GROUP LIÊN HỆ
  
Statistics
Online: 108
Visiter today: 532
Total: 3,610,461
Our Partners
Sealaw
luat su Dong Nam A
Thu no viet nam
cong chung viet nam
Hội bảo trợ tư pháp
dich vu giay phep
Trang chủ > Dịch vụ > Kinh nghiệm & Lưu ý
Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự tại việt nam. thực tiễn pháp luật và đề xuất hoàn thiện
Phạm Văn Toàn - Phó Chánh Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ


Nói đến quyền sở hữu trí tuệ (QSHTT) là nói đến sự công nhận từ phía nhà nước đối với một quyền dân sự (quyền nhân thân, quyền tài sản) của tổ chức, cá nhân đối với tài sản sở hữu trí tuệ nhất định và có chế độ bảo vệ tài sản đó như bất kỳ tài sản nào khác. Do vậy, nếu có tranh chấp xảy ra thì biện pháp dân sự thường được áp dụng trước tiên để giải quyết.

Vấn đề bảo vệ QSHTT bằng biện pháp dân sự đã và đang rất được quan tâm tại nhiều quốc gia trên thế giới, do đây là biện pháp có nhiều ưu điểm mà pháp luật về sở hữu trí tuệ cần đề cao. Tại Việt Nam, lĩnh vực này cần phải được nghiên cứu kỹ hơn, đáp ứng được sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực QSHTT - với tư cách là một quyền dân sự cần phải được bảo vệ bằng nhiều biện pháp trong đó cần chú trọng biện pháp dân sự.

Theo pháp luật Việt nam, QSHTT là chế định trong pháp luật dân sự, là lĩnh vực thuộc quan hệ pháp luật dân sự, trong đó các yếu tố cấu thành bao gồm chủ thể, khách thể và nội dung. QSHTT là một phạm trù pháp lý trong quyền sở hữu nói chung, do vậy, giống như các quyền dân sự khác, QSHTT cũng bao gồm các nhóm quy phạm liên quan đến các hình thức sở hữu, căn cứ phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu, cách thức, biện pháp chuyển quyền sở hữu, các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu (trong đó, xử lý hành vi xâm phạm QSHTT là một nội dung quan trọng).

Bảo vệ QSHTT nói chung, bảo vệ QSHTT bằng biện pháp dân sự nói riêng là những đề tài rộng lớn, đòi hỏi phải đ­ược nghiên cứu một cách tổng quát, khoa học. Mặt khác, QSHTT là một nội dung lớn bao gồm: Quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp (QSHCN) và quyền đối với giống cây trồng. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả chỉ tập trung đi sâu tìm hiểu vấn đề: xử lý xâm phạm  quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Các vấn đề về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền đối với giống cây trồng…sẽ không đề cập trong bài viết này.

1. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XỬ LÝ XÂM PHẠM QSHCN BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ

  Tại Việt Nam, xử lý xâm phạm QSHTT nói chung và xử lý xâm phạm QSHCN nói riêng phụ thuộc vào chủ trương, chính sách về sở hữu trí tuệ ở từng giai đoạn, pháp luật về xử lý xâm phạm QSHCN cũng có những dấu ấn riêng, trong đó, xử lý xâm phạm quyền các đối tượng của QSHCN được đặc biệt nhấn mạnh và đã có bước phát triển đáng kể.

Trước khi Hội đồng nhà nước thông qua Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1989, thì việc bảo hộ các đối tượng của QSHCN cho các chủ thể quyền chưa được coi trọng. Theo TS. Pham Duy Nghĩa: “mãi đến đầu những năm 80, những văn bản đầu tiên về sáng chế theo mô hình pháp luật Xô viết mới được du nhập vào Việt Nam. Cũng như đối với toàn bộ tư liệu sản xuất nói chung, mô hình Xô viết không công nhận quyền tài sản về trí tuệ [1]. Đến đầu những năm 80, Chính phủ đã ban hành một số nghị định về bảo hộ sở hữu công nghiệp như: Nghị định 31/CP ngày 23/01/1981 về bảo hộ sáng chế; Nghị định 197/HĐBT ngày 14/12/1982 về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa; Nghị định số 85/HĐBT ngày 13/5/1988 về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp; Nghị định số 200/HĐBT ngày 28/12/1988 về giải pháp hữu ích. Theo nội dung của các nghị định nêu trên thì mọi hành vi xâm phạm độc quyền của chủ văn bằng đều bị xử lý theo pháp luật. Người xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm, bồi thường thiệt hại cho chủ văn bằng và chịu hình thức xử phạt khác tùy theo mức độ xâm phạm. Chủ văn bằng bảo hộ khi phát hiện hành vi xâm phạm độc quyền của mình, có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền, yêu cầu người xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm.

Trong trường hợp tự xét thấy mức độ xâm phạm gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đề nghị của mình đến cơ quan có trách nhiệm không được giải quyết thỏa đáng, thì chủ văn bằng có quyền khiếu nại lên Tòa án nhân dân có thẩm quyền.

Đến năm 1989, để nâng cao tính pháp lý của việc bảo hộ QSHCN, Hội đồng nhà nước đã thông qua Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Lần đầu tiên khái niệm “sở hữu công nghiệp” (SHCN) được chính thức sử dụng trong các văn bản của nhà nước. Trong đó thừa nhận quyền sở hữu công nghiệp là quyền tư hữu [2]. Năm 1993, Cục sáng chế được đổi tên thành Cục Sở hữu công nghiệp với chức năng, nhiệm vụ được bổ sung cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới về SHCN, chuẩn bị đưa hoạt động SHCN đi vào quỹ đạo của nền kinh tế thị trường. Sự ra đời của Pháp lệnh đã tạo sự chuyển biến sâu sắc của pháp luật về bảo hộ QSHCN. Kế thừa các quy định của các văn bản trước đó, các quy định trong Pháp lệnh đã thừa nhận quyền tự bảo vệ của các chủ thể QSHCN cũng như quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm QSHCN.

Để xử lý hành vi xâm phạm QSHCN thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án, ngày 22/7/1989, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành thông tư số 03/NCLP, trong đó đã đề cập đến việc hướng dẫn xử lý các hành vi xâm phạm QSHCN.

Ngày 28/10/1995, Quốc hội Việt nam đã thông qua Bộ luật Dân sự (có hiệu lực từ ngày 01/01/1996, được sửa đổi, bổ sung năm 2005) trong đó toàn bộ chương II, Phần thứ sáu đã quy định về bảo hộ QSHCN. Đây là cơ sở pháp lý cao nhất để việc bảo hộ QSHCN được thực hiện, qua đó góp phần quan trọng việc thúc đẩy phát triển sự sáng tạo không ngừng trong lĩnh vực SHCN.

Nhằm đáp ứng quá trình hội nhập của Việt Nam và thể chế hóa các quy định về bảo hộ QSHCN trong Bộ luật Dân sự, chúng ta đã ban hành một số văn bản: Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về QSHCN; Nghị định 06/CP ngày 01/02/2001 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/CP; Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000 về bảo hộ QSHCN đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến SHCN[3]; Nghị định số 42/2003/NĐ-CP ngày 02/5/2003 về bảo hộ bố trí thiết kế mạch tích hợp. Các văn bản này đã có tác dụng tích cực trong việc chuyển hoá các quy định chung của BLDS về SHCN.

Ngoài việc ban hành các văn bản pháp luật nêu trên, Việt Nam đã tích cực tham gia các điều ước quốc tế trong lĩnh vực SHCN như: Công ước Paris 1883 về bảo hộ SHCN; Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa; Công ước Stockholm về Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO),  Hiệp ước hợp tác sáng chế (PTC), Hiệp định về bảo hộ sở hữu trí tuệ với Liên bang Thụy sĩ, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa kỳ (BTA)…

Đặc biệt, khi QSHTT đã trở thành yếu tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đứng trước yêu cầu hội nhập sâu, rộng, ngày 29/11/2005, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ (có hiệu lực từ ngày 01/7/2005, được sửa đổi bổ sung ngày 19/6/2009), trong đó vấn đề bảo vệ QSHTT được đặc biệt quan tâm. Lần đầu tiên thuật ngữ “bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ” đã được sử dụng chính thức trong luật và có hẳn một chương riêng (Chương XVII) quy định xử lý xâm phạm QSHTT bằng biện pháp dân sự [4].

Như  vậy, bảo vệ QSHCN là việc pháp luật quy định các quyền nhân thân và quyền tài sản của các chủ thể quyền đối với các đối tượng SHCN đồng thời quy định các biện pháp nhằm bảo vệ QSHCN khi có hành vi xâm phạm. QSHCN như trên đã đề cập đó là quyền dân sự, do vậy theo nguyên tắc chung của pháp luật thì mọi quyền dân sự hợp pháp đều được nhà nước bảo vệ.  


Bài viết còn dài, quí vị vui lòng click vào đây để xem toàn văn bài viết




(Source: Bộ KHCN)
[ Back ]
OTHER
Kinh nghiệm xử lý xâm phạm quyền SHTT (27/2/2015)
Những vấn đề cần gì cần lưu ý khi xác định yếu tố xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp (27/2/2015)
Tư vấn Online
luatsudongnama   luatsudongnama
Our Partners
mau van ban
dich vu thu no
Lien doan luat su Viet nam
Debt collection
Trong tai thuong mai viet nam
ô mai ba thu
danh bạ luật sư việt nam
Hướng dẫn xử lý xâm phạm nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng